Thứ Năm, 20 tháng 9, 2018

YÊU MẾN NHIỀU...

20.9.2018 – Thứ Năm Tuần 24 TN B

***

Lời Chúa: Lc 7, 36-50

Khi ấy, có người thuộc nhóm Pharisêu mời Ðức Giêsu dùng bữa với mình. Ðức Giêsu đến nhà người Pharisêu ấy và vào bàn ăn. Và kìa một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pharisêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Chị đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên. Thấy vậy, ông Pharisêu đã mời Người liền nghĩ bụng rằng: “Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào: một người tội lỗi!” Ðức Giêsu lên tiếng bảo ông: “Này ông Simon, tôi có điều muốn nói với ông!” Ông ấy thưa: “Dạ, xin Thầy cứ nói.” Ðức Giêsu nói: “Một chủ nợ kia có hai con nợ: một người nợ năm trăm quan tiền, một người nợ năm chục. Vì họ không có gì để trả, nên chủ nợ đã thương tình tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nhiều hơn?” Ông Simon đáp: “Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn.” Ðức Giêsu bảo: “Ông xét đúng lắm.” Rồi quay lại phía người phụ nữ, Người nói với ông Simon: “Ông thấy người phụ nữ này chứ? Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã chẳng hôn chào tôi được một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân tôi. Dầu ôliu, ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi. Vì thế, tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít.” Rồi Ðức Giêsu nói với người phụ nữ: “Tội của chị đã được tha rồi.” Bấy giờ những người đồng bàn liền nghĩ bụng: “Ông này là ai mà lại tha được cả tội?” Nhưng Ðức Giêsu nói với người phụ nữ: “Lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an.”
Suy niệm: Chị hãy đi bình an
Chỉ Luca mới nói đến chuyện các người Pharisêu mời Đức Giêsu dùng bữa. 
Họ mời Đức Giêsu dự tiệc ba lần (7, 36; 11, 37; 14, 1). 
Họ còn báo cho ngài biết về việc Hêrôđê toan ám hại ngài (13, 31). 
Xem ra không phải mọi người Pharisêu đều có ác cảm với Đức Giêsu. 
Hôm nay Đức Giêsu là khách mời của ông Simon. 
Ngài chẳng ngại đáp lại lời mời của một người thuộc phái Pharisêu, 
cũng như ngài đã chẳng sợ làm bạn với người thu thuế và tội lỗi (Lc 7, 34). 
Khi ăn tiệc lớn ở xứ Palestine thời đó, 
các vị khách thường ngả người nằm trên những chiếc ghế dài, có gối, 
chân đưa ra ngoài, tay trái dùng để tựa, còn tay phải để lấy thức ăn. 
Khi nhà có đại tiệc, người ngoài được tự do ra vào. 
Bất ngờ có một phụ nữ mạnh dạn bước vào phòng tiệc. 
Người ta nhận ra chị là một người tội lỗi sống trong thành phố, 
nhưng không chắc chị có phải là một cô gái điếm không. 
Chị cố ý đến đây vì biết Đức Giêsu đang có mặt trong bữa tiệc. 
Đây là người mà chị đã từng gặp và đã nhận được ơn tha thứ. 
Chị đã chuẩn bị khá kỹ và biết rất rõ việc mình sắp làm cho Ngài. 
Chị đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm (c. 37). 
Đứng ở gần chân Đức Giêsu, chị bật khóc nức nở. 
Nước mắt chị làm ướt chân Ngài. 
Những giọt nước mắt ăn năn vì tội lỗi quá khứ, 
hay vui sướng vì biết mình đã đựoc thứ tha ? 
Sau đó chị cởi khăn choàng đầu và xõa tóc để lau khô chân Đức Giêsu. 
Cuối cùng, chị còn hôn lên chân và xức dầu thơm nữa. 
Nói chung, những cử chỉ táo bạo của chị thật hết sức chướng mắt 
đối với những người dự tiệc trong xã hội thời đó (và bây giờ cũng vậy !). 
Xõa tóc trước công chúng là điều phụ nữ Do Thái không được phép làm, 
vuốt ve và hôn chân một người đàn ông hẳn là những cử chỉ khêu gợi. 
Hơn nữa, chị lại là một người tội lỗi có tiếng trong thành. 
Một con người nhơ uế như chị khi đụng chạm sẽ làm người khác nhơ uế. 
Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy ông Simon nghĩ thầm: 
“Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn ông phải biết 
người phụ nữ đang đụng vào mình là ai, vì chị ta là một người tội lỗi.” 
Đức Giêsu có biết không? Nếu không, thì Ngài không phải là ngôn sứ. 
Nhưng nếu Ngài biết, mà ngài lại cứ để chị làm như vậy, 
thì còn gì là danh dự của ông Simon và của chính Ngài nữa! 
Đức Giêsu biết chị là ai, biết cả điều Simon thầm nghĩ (x. 5, 21-22; 6, 7-8). 
Ngài không phản ứng gì vì ngài hiểu ý nghĩa điều chị làm. 
Đó không phải là cử chỉ khêu gợi của một cô gái làng chơi, 
nhưng là những hành vi diễn tả lòng biết ơn của người được tha thứ. 
Đức Giêsu hiểu những giọt nước mắt của chị, vừa hối hận, vừa hạnh phúc. 
Ngài hiểu cả những cử chỉ có vẻ quyến rũ của chị trên đôi chân mình: 
rửa chân bằng nước mắt, lau chân bằng tóc, hôn chân và xức dầu thơm. 
Ngài đọc thấy trong đó lòng trân trọng và biết ơn. 
Đó là sự trào dâng không thể cưỡng lại được của tâm tình yêu mến. 
Tuyệt đối không có chút nhơ uế nào nơi những cử chỉ ấy. 
Và Đức Giêsu đã đón nhận tất cả với trái tim thanh khiết của mình. 
Để soi sáng cho ông Simon hiểu về hành động của người phụ nữ, 
Đức Giêsu kể cho ông nghe một dụ ngôn kèm theo một câu hỏi (cc. 41-42) 
Hai người cùng mắc nợ, một người 500 quan tiền, một người 50. 
cả hai cùng được chủ nợ tha vì họ không có gì để trả. 
“Vậy trong hai người đó, ai sẽ yêu mến chủ nợ hơn ?” 
Câu hỏi chẳng có gì khó đối với Simon và ông đã trả lời đúng. 
Ta nên lưu ý: yêu mến ở đây có nghĩa là biết ơn. 
Tự nhiên người được tha nhiều thì sẽ biết ơn nhiều, kẻ được tha ít sẽ biết ơn ít. 
Dụ ngôn đơn giản của Đức Giêsu được áp dụng vào thực tế. 
Rõ ràng là chị phụ nữ đã yêu mến Đức Giêsu hơn ông Simon. 
Đức Giêsu làm một so sánh giữa cách tiếp đón của hai người (cc.44-46). 
Simon đã chẳng cho Ngài nước để rửa chân, chẳng hôn, chẳng xức dầu trên đầu. 
Dĩ nhiên đó chẳng phải là những đòi hỏi bắt buộc khi tiếp khách, 
nhưng dù sao cách tiếp khách của Simon cũng nhạt nhẽo hơn so với chị kia. 
Câu 47 là một câu quan trọng để hiểu đúng ý của đoạn Tin Mừng này. 
Câu này trước đây thường được dịch như sau: 
“Tội của chị ấy tuy nhiều, nhưng đã được tha, vì (hoti) chị đã yêu mến nhiều. 
Còn ai được tha ít thì yêu mến ít,” 
Dịch như thế dễ gây hiểu lầm rằng vì yêu nhiều nên chị được tha nhiều. 
Thật ra phải hiểu ngược lại mới đúng. 
Chính vì chị được tha nhiều nên chị mới yêu mến biết ơn nhiều. 
Lòng yêu mến là kết quả, chứ không phải là nguyên nhân của sự tha thứ. 
Lòng biết ơn đến sau khi nhận ơn. 
Hiểu như thế sẽ hợp với ý nghĩa của dụ ngôn (cc. 41-42), 
và hợp với vế sau của câu 47: còn ai được tha ít thì yêu mến ít. 
Chẳng rõ ông Simon có nhận ra mình là ai chưa. 
Ông đúng là người yêu ít hơn chị phụ nữ tội lỗi kia, 
vì ông được tha ít hơn, vì ông có ít tội hơn !!! 
Nhưng có thật ông ít tội hơn người phụ nữ tội lỗi này không? 
Hay vì tự hào mà ông không thấy cần đến sự tha thứ của Thiên Chúa? 
Tự hào về đạo đức vẫn là một vật cản khiến người ta khép lại và vô ơn. 
Người phụ nữ tội lỗi là người yêu hơn (c. 42) và yêu nhiều (c. 47). 
Tội quá khứ, khi được tha, lại tạo nên một hứng khởi mới để người ta yêu hơn. 
Những vấp ngã khi được chữa lành lại trở nên một khởi đầu cho cuộc sống mới, 
can đảm hơn, quảng đại hơn và nồng cháy hơn. 
Cuối cùng, Đức Giêsu đã quay lại nói chuyện với người phụ nữ. 
Ngài khẳng định lại ơn mà chị đã lãnh nhận trước khi chị bước vào phòng tiệc: 
“Tội của chị đã được tha rồi”, Ngài nhắc cho mọi người biết chuyện đó. 
Như thế Đức Giêsu không phải chỉ là một ngôn sứ như Simon nghĩ. 
Ngài còn lớn hơn một ngôn sứ nữa khi dám tha tội cho chị. 
Cuối cùng, Đức Giêsu lại ca ngợi lòng tin của chị. 
Lòng tin thắm đượm tình yêu, hay tình yêu thắm đượm lòng tin. 
Cả hai quyện vào nhau giúp chị đón lấy ơn cứu độ, ơn bình an: 
“Lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an” (c. 50). 
Chúng ta có thể học được nhiều điều nơi người phụ nữ: 
lòng tin mãnh liệt vào sự tha thứ, lòng mến táo bạo của sự biết ơn, 
Chúng ta cũng cảm nghiệm được sức mạnh của ơn tha thứ của Thiên Chúa. 
Sức mạnh ấy có thể làm mới lại cuộc đời một phụ nữ hư hỏng, 
và dạy chị biết yêu như yêu lần đầu. 
Chẳng rõ ông Simon có học được điều gì từ biến cố này không? 

Cầu nguyện :

Lạy Thiên Chúa, đây lời tôi cầu nguyện : 
Xin tận diệt, tận diệt trong tim tôi 
mọi biển lận tầm thường. 
Xin cho tôi sức mạnh thản nhiên 
để gánh chịu mọi buồn vui. 
Xin cho tôi sức mạnh hiên ngang 
để đem tình yêu gánh vác việc đời. 
Xin cho tôi sức mạnh ngoan cường 
để chẳng bao giờ khinh rẻ người nghèo khó, 
hay cúi đầu khuất phục trước ngạo mạn, quyền uy. 
Xin cho tôi sức mạnh dẻo dai 
để nâng tâm hồn vươn lên khỏi ti tiện hằng ngày. 
Và cho tôi sức mạnh tràn trề 
để âu yếm dâng mình theo ý Người muốn. 
(R. Tagore) 
(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.)

Thứ Tư, 19 tháng 9, 2018

TÁC NHÂN TẠO RA HẠNH PHÚC (tt)



Điều gì sẽ xảy ra trong bản thân ta,
      nếu ngày nào cũng ngay khi thức dậy,
      ta cố gắng tỏ ra dễ thương,
      đi đến với người khác,
      nói hay nói tốt cho ai đó,
      mà bất chợt ta chỉ nghĩ đến tên,
      hay nhớ tới nhờ câu chuyện đang nói...
Điều gì sẽ xảy ra
      nếu ta luôn chấp nhận
      những nghịch cảnh và bực bội xảy đến
      không nổi nóng, không tỏ ra khó chịu...
Điều gì sẽ xảy ra
      nếu ngày nào ta cũng rút được
      điều hay nhất trong những gì xảy đến...
      Nếu ta cố gắng bỏ qua,
      băn khoăn, ưu tư, lo ngại, thành kiến,
      nói tóm lại tất cả những gì
      gây khó chịu cho hệ thần kinh...
Điều gì sẽ xảy ra
      nếu ngày nào cũng vậy,
      bất kỳ chỗ nào ta đến,
      ta cũng mang theo ta,
      lạc quan, vui vẻ, yêu đời...
      Nếu ta thử tạo quanh ta bầu khí cởi mở,
      vui tươi, an hoà...
      Nếu ta thử đừng quan trọng hoá điều gì,
      đừng gây bi kịch làm chi,
      khiến tính mẫn cảm ta cùn lụt đi...
Điều gì sẽ xảy ra
      nếu ngày nào cũng vậy
      nụ cười ta luôn giữ trên môi,
      cặp mắt ta luôn ánh lên niềm vui,
      đôi tay ta lúc nào cũng mở rộng,
      đối với mọi yêu cầu phục vụ và đón tiếp...
Điều gì sẽ xảy ra
      nếu ngày nào cũng vậy
      ta không để mình ưu phiền
      vì giới hạn, vụng về, lầm lẫn của mình...
      Nếu ta quên được những gì
      khiến ta căng thẳng, lo âu, nóng lòng...
Điều gì sẽ xảy ra
      nếu ta không lưu tâm nhận xét
      những mếch lòng do người khác gây ra...
      Nếu ta không khuyên nhủ
      người này hay người khác
      ngoài thẩm quyền của ta...
*
Ta trả lời sao đây?
Nếu được như thế,
      dưới mắt nhiều người,
      ta sẽ là nghệ sĩ dễ thương
      hằng ngày chăm chỉ trau dồi
      nhân phẩm mà Tạo Hoá ban cho
      hợp lực với cha mẹ,
      với những ai phải dạy dỗ ta,
      những người làm gương tốt cho ta
      đã cố tình lưu tâm giúp đỡ ta.
*
Gợi ý:

      Công việc tôi đã làm trong quá khứ
      dù khiêm tốn đến đâu
      cũng vẫn là điều tốt.

      Công việc tôi sẽ làm trong tương lai
      dù khiêm tốn đến đâu
      có thể là điều tốt
      chứ không phải chắc chắn.

      Công việc tôi phải làm hôm nay
      nếu tôi cứ khởi công
      sẽ trở nên tuyệt hảo
      vì tôi hoàn toàn làm chủ nó.

LUÔN TỪ KHƯỚC...

19.9.2018 – Thứ Tư Tuần 24 TN B

***

Lời Chúa: Lc 7, 31-35

Khi ấy, Đức Giêsu nói với dâ chúng rằng: “Vậy tôi phải ví người thế hệ này với ai? Họ giống ai? Họ giống như lũ trẻ ngồi ngoài chợ gọi nhau mà nói: “Tụi tôi thổi sáo cho các anh, mà các anh không nhảy múa; tụi tôi hát bài đưa đám, mà các anh không khóc than”. Thật vậy, ông Gioan Tẩy Giả đến, không ăn bánh, không uống rượu, thì các ông bảo: “Ông ta bị quỷ ám”. Con Người đến, cũng ăn cũng uống như ai, thì các ông lại bảo: “Ðây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi”. Nhưng Ðức Khôn Ngoan đã được tất cả con cái mình biện minh cho.”
Suy niệm: Lũ trẻ ngồi ngoài chợ
Đức Giêsu ví những người thuộc thế hệ của Ngài 
với lũ trẻ ngồi chơi ngoài chợ (cc. 31-32). 
Các nhóm chơi với nhau, í ới gọi nhau. 
Một nhóm bày ra trò chơi đám cưới, 
thổi sáo, thổi kèn để mong nhóm kia nhảy múa. 
Nhưng nhóm kia đã không tham gia. 
Sau đó nhóm này bèn chơi trò đám ma, hát những bài ca buồn não nuột. 
Nhưng nhóm kia vẫn chẳng khóc than thương tiếc. 
Hẳn là chẳng vui gì khi có sự thụ động, lạnh nhạt như vậy. 
Dụ ngôn trên đây nói đến một số người khó chiều, bướng bỉnh. 
Dù thế nào thì họ cũng đứng ngoài, không chịu nhập vào cuộc chơi. 
Họ chẳng thích cả trò đám ma lẫn đám cưới. 
Qua dụ ngôn này, Đức Giêsu muốn nói đến những người ở thời của Ngài. 
Họ có nét tương tự như lũ trẻ ngồi ngoài chợ. 
Khi Gioan Tẩy giả đến mời gọi họ sám hối ăn năn, 
đời sống khổ hạnh của vị ngôn sứ này đã khiến họ từ khước (Lc 7, 30). 
Đơn giản vì họ không thích khóc than hay hoán cải. 
Gioan ăn chay nên không ăn bánh, không uống rượu (c. 33). 
Lối sống của ông phù hợp với lời ông giảng về việc Nước Trời gần đến. 
Nhưng lối sống khác thường ấy lại bị xem là một triệu chứng tâm thần. 
Người ta đã coi ông là bị quỷ ám, 
nên ít người tin vào lời giảng của một người như thế. 
Khi Đức Giêsu đến với thế hệ này, 
Ngài đã không mang dáng dấp của một ẩn sĩ nơi hoang địa. 
Ngài đã sống như một người bình thường, ăn uống bình thường. 
Lối sống của Ngài phản ánh Tin Mừng Ngài rao giảng, 
một Tin Mừng đem lại niềm vui và sự giải phóng. 
Những bữa ăn trong đời Ngài đóng một vai trò quan trọng. 
Ngài ngồi ăn với những người bị xã hội loại trừ như người thu thuế. 
Ngài đón nhận vào bàn ăn cả những tội nhân cần tránh xa. 
Chính trong bầu khí vui tươi, ấm áp của bữa ăn 
mà họ cảm nhận được tình thương tha thứ của Thiên Chúa. 
Tiếc thay, Ngài cũng bị từ khước như Gioan, 
bị coi là kẻ chỉ biết ăn với nhậu (c. 34). 
Cả Gioan lẫn Đức Giêsu đều bó tay trước sự cố chấp của thế hệ này. 
Cả hai người, với hai lối sống nghịch nhau, cũng không chiều được họ. 
Khi sợ thay đổi chính mình, ai cũng có thể tìm ra được lý do để biện minh. 
Khi cố chấp và ngụy biện để khỏi phải đối diện với chân lý, 
con người chẳng được tự do. 
Nguy cơ của con người mọi thời vẫn là ở lại trong tình trạng trẻ con ấu trĩ. 
Làm sao để con người hôm nay có thể nghe được tiếng kêu của Gioan, 
mời gọi người ta thay đổi cuộc sống bằng cách chia sẻ (Lc 3, 10-14)? 
Làm sao thái độ bao dung của Đức Giêsu 
ảnh hưởng trên một thế giới còn nhiều hận thù, chia rẽ, loại trừ nhau? 

Cầu nguyện :

Lạy Cha, 
xin dạy chúng con biết cộng tác với nhau 
trong việc xây dựng Nước Trời ở trần gian. 
Xin cho chúng con đến với nhau 
không chút thành kiến, 
và tin tưởng vào thiện chí của nhau. 
Khi cộng tác với nhau, 
xin cho chúng con cảm thấy Cha hiện diện, 
nhờ đó chúng con vượt qua 
những tự ái nhỏ nhen, 
những tham vọng ích kỷ 
và những định kiến cằn cỗi. 
Ước gì chúng con dám từ bỏ mình, 
để tìm kiếm chân lý 
ở mọi nơi và mọi người, 
nhất là nơi những ai khác quan điểm. 
Lạy Cha, 
xin sai Thánh Thần đến trên chúng con, 
để chúng con biết lắng nghe nhau bằng quả tim, 
và hiểu nhau ngay trong những dị biệt. 
Nhờ sống mầu nhiệm cộng tác, 
xin cho chúng con được triển nở không ngừng 
và Thánh Ý Cha được thể hiện trên mặt đất. Amen. 
(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.)

Thứ Ba, 18 tháng 9, 2018

TÁC NHÂN TẠO RA HẠNH PHÚC (tt)


Thỉnh thoảng cũng nên tự hỏi mình:
      điều gì khiến ta suy nghĩ và đào sâu,
      hay ít ra là tự xét mình lại
      về tính lạc quan vốn sẵn có trong ta?
Hôm nay ta có hạnh phúc hơn, bình thản hơn,
      chế ngự cảm xúc dễ dàng hơn
      so với thời ta còn trẻ trung chăng?
      Có thể là không... nếu ta đã chẳng đổi thay,
      nếu ta đã chẳng lưu tâm
      đưa mình về sống với phút giây hiện tại.
Ngày nào đó ta sẽ phải thực hiện
      để có được những kinh nghiệm bản thân,
      ta sẽ phải sáng suốt và tự nguyện,
      thường xuyên nỗ lực để làm chủ cảm xúc.
Ta sẽ phải kết luận:
      ta bực bội hay vui tươi hài hước,
      là do ta hơn là do người khác.
Quả thực là sống giây phút hiện tại
      bằng tinh thần tích cực vui tươi
      sẽ biến ta nên một người hạnh phúc,
      rồi với thời gian ta nhận thấy
      thái độ bình thản là tiêu chuẩn
      đo hạnh phúc và ảnh hưởng của ta.
Ngày nào tôi xác tín rằng:
      chắc chắn tôi tự chủ được bản thân,
      ngày đó cuộc đời ta thay đổi,
      ta không còn là mối đe doạ cho người khác.
      Người ta sẽ tìm ta để kết bạn,
      chứ không còn phải chịu đựng vì ta.

Thứ Hai, 17 tháng 9, 2018

THIÊN CHÚA VIẾNG THĂM

18.9.2018 – Thứ Ba Tuần 24 TN B

***

Lời Chúa: Lc 7, 11-17

Khi ấy, Ðức Giêsu đi đến thành kia gọi là Nain, có các môn đệ và một đám người rất đông cùng đi với Người. Khi Ðức Giêsu đến gần cửa thành, thì kìa người ta khiêng một người chết đi chôn, người này là con trai duy nhất, và mẹ anh ta lại là một bà goá. Có đám rất đông người trong thành cùng đi với bà. Trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương và nói: “Bà đừng khóc nữa!” Rồi Người lại gần, sờ vào quan tài. Các người khiêng dừng lại. Ðức Giêsu nói: “Này người thanh niên, tôi bảo anh: hãy trỗi dậy!” Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói. Ðức Giêsu trao anh ta cho bà mẹ. Mọi người đều kinh sợ và tôn vinh Thiên Chúa rằng: “Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người”. Lời này được đồn ra trong khắp cả miền Giuđê và vùng lân cận.
Suy niệm: Thiên Chúa viếng thăm dân Người
Thánh Luca đã viết câu chuyện này như một người quay phim. 
Ngài bắt đầu từ cảnh Đức Giêsu và các môn đệ cùng đi với một đám đông. 
Thầy trò và mọi người đang trên đường tiến vào thành Nain. 
Khi gần đến cửa thành thì lại gặp một đám đông khác đi ra. 
Đây là một đám tang lớn có đông người theo ra mộ. 
Sau đó là cận cảnh Đức Giêsu gặp bà mẹ của người chết. 
Cuối cùng trở lại với cảnh của hai đám đông kinh sợ ngỡ ngàng, 
và câu chuyện kỳ diệu lan ra khắp Giuđê và các vùng lân cận. 
Chuyện Đức Giêsu gặp đám tang là chuyện tình cờ trên đường. 
Nhưng điều đánh động trái tim Ngài lại không phải là chuyện người chết, 
dù anh thanh niên này chết khi còn cả một tương lai. 
Điều thu hút cái nhìn và mối quan tâm của Đức Giêsu chính là bà mẹ. 
Đó là một bà góa không còn chỗ nương tựa. 
Bà đã dự đám tang của người chồng. 
Và bây giờ bà lại dự đám tang của đứa con trai duy nhất. 
Chỗ dựa còn lại và cuối cùng cũng bị lấy đi. 
Đức Giêsu hiểu rất nhanh về nỗi đau của người phụ nữ. 
Bà biết mình bị trắng tay cả về tình cảm lẫn vật chất. 
Có lẽ bà đã nhiều lần tự hỏi: Thiên Chúa ở đâu? 
Đức Giêsu trông thấy bà, thấy nỗi đau và nước mắt. 
Ngài bảo: Bà đừng khóc nữa (c. 13). 
Dường như Ngài không có khả năng chịu được nước mắt của người khác. 
Khi thấy cô chị Maria khóc em là Ladarô đã chết (Ga 11, 33), 
Đức Giêsu đã thổn thức và xao xuyến, rồi Ngài bật khóc (Ga 11, 34). 
Sau này Ngài hỏi chị Maria Mađalêna khóc bên mộ vì mất xác Thầy: 
Này bà, tại sao bà khóc? (Ga 20, 15). 
Đức Giêsu hiểu rõ nỗi đau của sự chia ly bởi cái chết. 
Ngài cũng hiểu rõ về nước mắt của phận người, dù vì bất cứ lý do gì. 
Nhiệm vụ của Ngài là lau khô nước mắt và làm cho con tim vui trở lại. 
Đức Giêsu đã chạm đến quan tài, hay đúng hơn, 
chạm vào cái cáng khiêng xác được chôn theo kiểu người Do Thái. 
Ngài nói với anh như ra lệnh: Tôi bảo anh, hãy trỗi dậy (c.14). 
Anh thanh niên ngồi dậy và bắt đầu nói: anh đã được hoàn sinh. 
Như Êlia ngày xưa, Ngài trao anh cho bà mẹ (1 V 17,23). 
Ai là người vui nhất? Bà mẹ, người con, đám đông, hay Đức Giêsu? 
Có lẽ là Đức Giêsu, người đã đem lại hạnh phúc cho người khác. 
Khi đứa con lao vào vòng tay mẹ, 
khó lòng Ngài giấu được giọt nước mắt vì vui. 
Đám đông kêu lên: Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người (c.16). 
Thiên Chúa không chỉ thăm dân Do Thái qua Đức Giêsu (Lc 1, 68.78; 19, 44), 
Chương trình làm việc mỗi ngày của Ngài là thăm cả thế giới. 
Thiên Chúa Ba Ngôi vẫn đến thăm tôi qua bao người khác, 
và Ngài muốn tôi đi thăm để lau khô nước mắt cho người bạn gần bên. 

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giêsu, 
Khi làm người, Chúa đã nhận trái đất này làm quê hương. 
Chúa đã ban nó cho chúng con như một quà tặng tuyệt vời. 
Nếu rừng không còn xanh, dòng suối không còn sạch, 
và bầu trời vắng tiếng chim. 
thì đó là lỗi của chúng con. 
Lạy Chúa Giêsu, 
Chúa đã đến làm người để tôn vinh phận người, 
vậy mà thế giới vẫn có một tỷ người đói, 
bao trẻ sơ sinh bị giết mỗi ngày khi chưa chào đời, 
bao kẻ sống không ra người, nhân phẩm bị chà đạp. 
Đó là lỗi của chúng con. 
Lạy Chúa Giêsu, 
Chúa đến đem bình an cho người Chúa thương, 
vậy mà trái đất của chúng con chưa một ngày an bình. 
Chiến tranh, khủng bố, xung đột, có mặt khắp nơi. 
Người ta cứ tìm cách giết nhau bằng thứ vũ khí tối tân hơn mãi. 
Đó là lỗi của chúng con. 
Lạy Chúa Giêsu ở Belem, 
Chúa đã cứu độ và chữa lành thế giới bằng tình yêu khiêm hạ, 
nhưng bất công, ích kỷ và dối trá vẫn thống trị địa cầu. 
Chúa đến đem ánh sáng, nhưng bóng tối vẫn tràn lan. 
Chúa đến đem tự do, nhưng con người vẫn bị trói buộc. 
Đó là lỗi của chúng con. 
Vì lỗi của chúng con, chương trình cứu độ của Chúa bị chậm lại, 
và giấc mơ của Chúa sau hai ngàn năm vẫn chưa thành tựu. 
Mỗi lần đến gần máng cỏ Belem, 
xin cho chúng con nghe được lời thì thầm gọi mời của Chúa 
để yêu trái đất lạnh giá này hơn, 
và xây dựng nó thành mái ấm cho mọi người. 
(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.)

TÁC NHÂN TẠO RA HẠNH PHÚC



GIÂY PHÚT HIỆN TẠI 
TÁC NHÂN TẠO RA HẠNH PHÚC THẬT SỰ
Cứ mỗi 24 giờ,
      Thiên Chúa lại trao cho tôi một ngày mới,
      y hệt như một tờ giấy trắng.
Ngày nào cũng đều có những giây phút tốt đẹp,
      nhưng giây phút tốt đẹp nhất ngày,
      chính là giây phút hiện tại,
      mà ta có thể dùng những tư tưởng
      đúng đắn và tích cực,
      những tư tưởng vui tươi và lạc quan,
      những tư tưởng đem lại bình an
      cho ta cũng như cho người khác,
      để lấp đầy nó.
Tâm hồn ta muốn bình an thư thái,
      muốn hưởng những giây phút thanh thản êm đềm,
      ta phải biết phát hiện điều hay nơi kẻ khác,
      phải tìm ra những kiểu nói tế nhị
      để nói họ nghe những gì là tích cực
      mà tôi nghĩ rằng họ đang có...

LÒNG TIN...

17.9.2018 – Thứ Hai Tuần 24 TN B

***

Lời Chúa: Lc 7, 1-10

Khi ấy, Ðức Giêsu vào thành Caphácnaum. Một viên đại đội trưởng kia có người nô lệ bệnh nặng gần chết. Ông ta yêu quý người lắm. Khi nghe đồn về Ðức Giêsu, ông cho mấy kỳ mục của người Do Thái đi xin Người đến cứu sống người nô lệ của ông. Họ đến gặp Ðức Giêsu và khẩn khoản nài xin Người rằng: “Thưa Ngài, ông ấy đáng được Ngài làm ơn cho. Vì ông quý mến dân ta. Vả lại chính ông đã xây cất hội đường cho chúng ta.” Ðức Giêsu liền đi với họ. Khi Người còn cách nhà viên sĩ quan không bao xa, thì ông này cho bạn hữu ra nói với Người: “Thưa Ngài, không dám phiền Ngài quá như vậy, vì tôi không đáng rước Ngài vào nhà tôi. Cũng vì lý do ấy, tôi đã không nghĩ mình xứng đáng đến gặp Ngài. Nhưng xin Ngài cứ nói một lời, thì đầy tớ của tôi được khỏi bệnh. Vì chính tôi đây, tuy dưới quyền kẻ khác, tôi cũng có lính tráng dưới quyền tôi. Tôi bảo người này: ‘Ði!’ là nó đi; bảo người kia: “Ðến!’ là nó đến; và bảo người nô lệ của tôi: ‘Làm cái này!’ là nó làm.” Nghe vậy, Ðức Giêsu thán phục ông ta, Người quay lại nói với đám đông đang theo Người rằng: “Tôi nói cho các ông hay: ngay cả trong dân Ítraen, tôi cũng chưa thấy một người nào có lòng tin mạnh như thế.” Về đến nhà, những người đã được sai đi thấy người nô lệ đã khỏi hẳn.
Suy niệm: Cứ nói một lời
Viên đại đội trưởng ở đây là người coi một trăm quân. 
Ông đã nghe đồn về khả năng chữa bệnh của Đức Giêsu. 
Nhưng ông chẳng hề dám gặp mặt Ngài, 
vì ông biết mình là dân ngoại, bị người Do Thái coi là nhơ uế. 
Bởi tình thương đối với anh nô lệ mà ông yêu quý, 
ông đã mạnh dạn nhờ các kỳ mục Do Thái xin Đức Giêsu đến nhà ông 
để cứu sống anh nô lệ đang bệnh nặng gần chết (cc. 2-3). 
Sau khi nghe kể lại những điều tốt đẹp viên sĩ quan Rôma này đã làm, 
Đức Giêsu liền lên đường đến nhà ông ấy để chữa bệnh (cc. 4-6). 
Khi Đức Giêsu còn trên đường, vị sĩ quan này đã suy nghĩ và đổi ý. 
Ông chẳng những thấy mình không đáng đến gặp mặt Ngài 
mà còn không đáng đón Ngài vào nhà mình nữa, 
căn nhà vẫn bị coi là ô uế của một người dân ngoại (c. 6). 
Ông muốn ngăn Ngài lại trước khi Ngài đến nhà ông, 
nên đã sai một số bạn hữu ra gặp Ngài trên đường (c. 6). 
Nơi ông bùng cháy một niềm tin mạnh mẽ. 
Ông tin rằng chẳng cần Ngài vào nhà ông và gặp anh nô lệ sắp chết. 
Chỉ cần Ngài nói một lời cũng đủ làm cho anh ta lành mạnh (c. 7). 
Viên đại đội trưởng tin vào sức mạnh của lời Đức Giêsu. 
Đối với ông, lời ấy có uy lực như một mệnh lệnh. 
Là một sĩ quan trong quân đội Rôma 
ông hiểu thế nào là sự phục tùng của lính tráng dưới quyền. 
“Tôi bảo người này: “Đi !” là nó đi; bảo người kia: “Đến !” là nó đến; 
và bảo người nô lệ của tôi: “Làm cái này !” là nó làm.” (c. 8). 
Lệnh được ban ra là phải thi hành. 
Viên đại đội trưởng tin rằng lời của Đức Giêsu cũng thế. 
Chỉ cần một lời cũng đủ làm cơn bệnh nguy tử phải thoái lui. 
Đức Giêsu ngỡ ngàng trước một lòng tin mạnh mẽ như vậy. 
Khó lòng tìm thấy lòng tin đó nơi cộng đoàn dân Ítraen (c. 9). 
Ngài đã không đến nhà viên sĩ quan, 
chẳng gặp mặt ông, cũng chẳng nói lời nào. 
Chỉ biết là sau đó anh nô lệ đã được khỏi (c. 10). 
Ở đâu ta cũng gặp những người như viên sĩ quan Rôma. 
Họ có thể là mẫu mực cho các Kitô hữu về sự khiêm hạ và tín thác. 
Nhiều con người hôm nay, có tấm lòng thật tốt như viên sĩ quan, 
nhưng vẫn ngại chưa dám mời Chúa vào nhà, 
chưa dám trực tiếp gặp mặt Chúa, 
chỉ dám nói chuyện với Ngài qua trung gian. 
Nhưng họ có thể đã mang trong mình một niềm tin kiên vững 
và đã có kinh nghiệm về sự chữa lành kỳ diệu của Ngài. 
“Tôi không đáng được Ngài vào nhà tôi, chỉ xin Ngài nói một lời…” 
Có khi chúng ta đã đánh mất ý thức về sự linh thánh khi rước Chúa. 
Có khi chúng ta chẳng tin mấy vào quyền năng của Lời Ngài. 
Xin có được lòng tin đơn sơ như một người dân ngoại. 

Cầu nguyện :

Lạy Chúa, 
xin ban cho con đức tin lớn hơn hạt cải, 
để con làm bật rễ khỏi lòng con 
những ích kỷ và khép kín. 
Xin cho con đức tin can đảm 
để con chẳng sợ thiệt thòi khi trao hiến, 
chẳng sợ từ bỏ những gì con cậy dựa xưa nay. 
Xin cho con đức tin sáng suốt 
để con thấy được thế giới 
mà mắt phàm không thấy, 
thấy được Đấng Vô hình, 
nhưng rất gần gũi thân thương, 
thấy được Đức Kitô nơi những người nghèo khổ. 
Xin cho con đức tin liều lĩnh, 
dám mất tất cả chỉ vì yêu Chúa và tha nhân, 
dám tiến bước trong bóng đêm 
chỉ vì mang trong tim một đốm lửa của Chúa, 
dám lội ngược dòng với thế gian 
và khước từ những mời mọc quyến rũ của nó. 
Xin cho con đức tin vui tươi, 
hạnh phúc vì biết những gì 
đang chờ mình ở cuối đường, 
sung sướng vì biết mình được yêu 
ngay giữa những sa mù của cuộc sống. 
Cuối cùng, xin cho con đức tin cứng cáp 
qua những cọ xát đau thuong của phận người, 
để dù bao thăng trầm dâu bể, 
con cũng không để tàn lụi niềm tin 
vào Thiên Chúa và vào con người. 
(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.)